LEARNDO / ĐỌC THEO LỘ TRÌNH
Bắt đầu với lịch sử và ý tưởng, xây nền tảng, thực hành thị giác 2D, rồi đi vào hình học 3D và kiến thức chuyên sâu. Mỗi bài vẫn có ví dụ, bài tập và chuỗi đọc riêng.
Đây là lịch đọc từ 261 bài đang công khai, không phải ngày xuất bản. Ngày đăng gốc được giữ trên từng bài. Ngày cuối được cân đối để có 2–4 bài; thời gian dưới đây chưa tính thực hành.
So sánh độ lệch chuẩn cố định, Xavier và Kaiming trên cùng một mạng ReLU, đồng thời phân biệt phương sai với moment bậc hai.
Đo gradient ở từng độ sâu trong hai chuỗi phép biến đổi, đồng thời xây phản ví dụ cho ý nghĩ rằng nhánh identity luôn ngăn gradient biến mất.
Chứng minh và kiểm tra tích lũy gradient bằng ba lô có 3, 4 và 6 mẫu, rồi chỉ ra lỗi chia loss đều theo số lô.
Đo underflow, sai số lượng tử và overflow bằng các phép ép kiểu CPU để hiểu giới hạn của FP16, BF16 và loss scaling.
Đối chiếu loss của PyTorch với hai cách lấy trung bình thủ công để phát hiện lỗi chuẩn hóa trọng số.
Tự tổng hợp cross-entropy theo số target hợp lệ và kiểm tra cả batch chỉ chứa ignore_index.
Tạo target one-hot, trộn với phân bố đều và kiểm tra loss thủ công khớp label_smoothing của PyTorch.
Dùng gradient có chuẩn biết trước để xác nhận giá trị trả về, chuẩn sau clipping và hướng của vector.
Bạn sẽ tính gradient theo ảnh đầu vào để xem những vùng ảnh hưởng đến điểm dự đoán. Bài giải thích cách đọc và giới hạn của bản đồ này.
Tạo một mô hình có cơ chế đã biết, tính Grad-CAM từ feature map và đối chiếu bản đồ nhiệt với mức giảm logit khi xóa từng vùng.
Tự dựng t-SNE nhỏ, kiểm tra phân phối xác suất và so hai seed để thấy lân cận có thể được giữ trong khi khoảng cách toàn cục biến dạng.
Mã hóa hộp theo anchor, tối ưu bốn offset bằng Smooth L1 và kiểm tra vùng gradient bằng không của IoU khi hai hộp chưa giao nhau.
Viết đầu phân lớp pointwise, đối chiếu với phép nhân ma trận và kiểm tra vì sao một logit chỉ đọc một vị trí trên bản đồ đặc trưng.
Quan sát chín vị trí lấy mẫu của tích chập giãn, kiểm tra kích thước đầu ra và ghép nhiều tỉ lệ thành một mô-đun ngữ cảnh nhỏ.
Tự xây bốn mức pooling, phục hồi kích thước và kiểm tra rằng một giá trị ngữ cảnh toàn cục truyền gradient đến mọi vị trí.
Tách gradient từ mất mát chính và phụ, kiểm tra tính cộng và phát hiện lỗi detach khiến nhánh phụ không cập nhật phần mạng dùng chung.
So sánh IoU toàn vùng với IoU dải biên trên hai hình vuông cùng dịch hai pixel, có định nghĩa erosion và quy ước mặt nạ rỗng rõ ràng.
Dùng trọng số và transforms chính thức của Torchvision, phục hồi logit về kích thước ảnh rồi đọc bản đồ lớp VOC và lớp phủ trên ảnh mèo.
Từ mặt nạ tiền cảnh chung, tạo offset có nhiễu, gom phiếu tại tâm và gán từng pixel về instance để hiểu một cơ chế hậu xử lý.
Một bộ phân loại chỉ trả lời ảnh thuộc lớp nào. Nếu muốn tìm những ảnh gần với một ảnh mẫu, ta cần giữ lại biểu diễn trước lớp quyết định.
Hai ảnh khác màu nền vẫn có thể mang cùng một hình dạng. Mạng Siamese giúp ta đặt câu hỏi theo cặp: biểu diễn của hai ảnh nên gần hay xa nhau? Trong thí nghiệm này, hai nhánh dùng chung một encoder.